Còn việc “không cấm, nhưng cũng không xác nhận” thì được Ban soạn thảo Dự luật lý giải nguyên cớ là chưa ăn nhập với điều kiện, tình cảnh kinh tế - xã hội, đặc biệt là văn hóa, thuần phong mỹ tục của nước ta
Trong phiên họp của Ủy ban TVQH về Dự thảo Luật HN-GĐ mới đây, Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật Phan Trung Lý đã cho rằng “luật trước đây cấm, giờ không cấm Nghĩa là người dân được làm, pháp luật phải rõ ràng, không nên quy định nửa tuồng như vậy”. Luật HN-GĐ hiện hành cấm thành thân giữa những người đồng tính, còn Dự thảo sửa đổi bước đầu đã nhấn việc chung sống như vợ chồng giữa hai người cùng giới bằng việc bổ sung vào khoản 4 Điều 8 khái niệm “chung sống như vợ chồng” là việc hai người khác giới tính hoặc cùng giới tính thỏa thuận tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng, có tổ chức lễ cưới hoặc được gia đình một hoặc hai bên ưng.
Với việc tổ chức đám cưới, đây không phải là hành vi xác lập quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý, mà chỉ là nghi thức truyền thống, nên chính quyền sẽ không can thiệp, trừ khi việc tổ chức đám cưới gây ra những hậu quả như gây mất thứ tự công cộng… Tuy không xác nhận quan hệ hôn nhân đồng giới, nhưng Dự thảo sửa đổi Luật HN-GĐ cũng đưa ra những phương án giải quyết hậu quả pháp lý của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính.
Thí dụ, luật đang cấm nhưng mà xin đăng ký thành thân thì có thể bị chính quyền xử phạt. Phương Thảo. Ngoại giả, quyền, nghĩa vụ giữa các bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con của người đồng tính cũng được giải quyết theo các quy định chung như với người dị tính được qui định cụ thể trong Dự thảo Luật HN-GĐ.
Thực ra, là một con người, một công dân, người đồng tính cũng có các quyền như với người dị tính. Vì luật pháp điều chỉnh hành vi của xã hội, đã tạo nên cách nhìn nhận về hôn nhân đồng tính theo hướng những gì luật pháp cấm là xấu, là sai lầm.
Từ chỗ sống khép mình, giấu mình, những người tán thành đã dần đổi thay quan niệm, công khai sống thật với bản thân, và đòi hỏi quyền bình đẳng cho mình. Nhiều cặp đôi đồng tính vẫn đang mong được dấn hôn nhân hợp pháp. Cụ thể, nếu các bên có thỏa thuận về tài sản, thì quan hệ sở hữu về tài sản giữa họ được xác định theo thỏa thuận đó. Tuy nhiên, vì họ chỉ chiếm số ít trong đời sống xã hội, nên việc bị “bao trùm, mặc định” bởi quan niệm vợ chồng phải là quan hệ giữa người nam và nữ, cũng là điều dễ hiểu.
Do đó, luật pháp là “hành lang pháp lý” để vừa bảo vệ, vừa hướng dẫn người dân thực hành các quyền, trách nhiệm của mình trong khuôn khổ luật pháp. Bên cạnh đó, việc sửa qui định về hôn nhân đồng tính cũng sẽ là cơ sở để coi xét sửa đổi, bổ sung các quy định khác can hệ, đảm bảo sự thống nhất hệ thống pháp luật.
Song song, Dự thảo cũng bỏ qui định cấm hôn phối giữa những người cùng giới tính. Việc bãi bỏ quy định cấm thành hôn đồng giới là cấp thiết, thích hợp với đòi hỏi của thực tại. Như vậy, so với luật pháp hiện hành, qui định của Dự thảo Luật HN-GĐ đã có sự thay đổi đáng kể về quan hệ hôn nhân của người đồng tính.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, dù luật pháp cấm hoàn toàn quan hệ hôn nhân đồng giới, và cũng chẳng có cứ pháp lý nào giải quyết quan hệ tài sản, nhân thân, con cái… giữa họ, thì trong nhiều năm qua, quan hệ hôn nhân của người đồng tính vẫn hình thành và tồn tại, song song với quan hệ hôn nhân của người dị tính.
Trường hợp các bên không có thỏa thuận về tài sản hoặc thỏa thuận bị Tòa án tuyên bố vô hiệu thì quan hệ sở hữu về tài sản giữa họ được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu riêng và sở hữu chung theo phần.
Đây là một nguyên do rất “cũ”, bởi trước đây, khi pháp luật không “đả động” gì đến quan hệ hôn nhân của người đồng tính, lý do được đưa ra cũng là quan hệ hôn nhân này không hợp với văn hóa, truyền thống dân tộc.
Hôn nhân đồng giới được cho là không hợp thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam, không thích hợp “quy luật sinh vật học và không đảm bảo chức năng gia đình về duy trì nòi giống”, nhưng cấm hôn nhân đồng tính lại làm ảnh hưởng, thậm chí là “vi phạm” những lợi quyền căn bản nhất của người đồng tính.
Theo đó, quan hệ về tài sản của các cặp “vợ chồng” đồng tính cũng được giải quyết như các cặp dị tính sống chung không có đăng ký kết hôn. Một qui định luật pháp được ra đời là nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong tầng lớp.
Để việc thực hành pháp luật được nghiêm minh, thì phải có một “phạm vi” rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng. Nhiều ý kiến cho rằng, một thời kì dài cấm hôn phối đồng tính đã “vô tình” khoét sâu thêm định kiến vô lý về quan hệ đồng tính là quan hệ không thông thường, bệnh hoạn, mà thiếu đi cái nhìn khoa học. Một dự luật chẳng thể sửa đổi trong một sớm, một chiều, mà phải có giá trị thi hành lâu dài, thế nên “số phận” của quan hệ hôn nhân đồng tính như thế nào cần được cân nhắc và qui định rõ ràng.
Do đó, khi luật bỏ qui định cấm kết hôn đồng tính, vững chắc sẽ là “cửa mở” để giảm bớt sự kỳ thị với người đồng tính. Khi ngay với các thành viên Ủy ban TVQH cũng thấy qui định của Dự thảo là “chưa ổn”, thì rõ ràng tính khả thi, hiệu quả khi áp dụng luật vào cuộc sống khó có thể đảm bảo. Thực tại cũng cho thấy, đã đến lúc pháp luật không thể “đứng ngoài” thực tiễn về quan hệ hôn nhân của người đồng tính, nên qui định thế nào để người dân hiểu và đồng thuận cần nghiên cứu kỹ.
Còn khi luật không cấm nữa, mà cũng không xác nhận, thì khi họ xin đăng ký hôn phối, sẽ bị chính quyền khước từ.
Nhưng cũng không thể vì quan niệm “truyền thống” này, mà pháp luật tẻ với lợi quyền của những người là số ít trong tầng lớp. Không riêng với Việt Nam, ở nhiều nước, việc giải quyết quan hệ hôn nhân giữa những người đồng tính cũng phải sang trọng một lịch trình dài.
Tuy nhiên, việc không cấm, nhưng cũng không dìm lại là một qui định kiểu “nước đôi”, nhập nhằng, khó hiểu. Trong điều kiện kinh tế, tầng lớp ngày càng phát triển, dân trí được nâng cao, cộng đồng người đồng tính càng ngày càng tinh thông hơn về lợi quyền chính đáng của mình, nên việc họ đòi hỏi đồng đẳng với người dị tính là điều cố nhiên.
Tức thị, họ có quyền kết hôn khi không còn bị cấm? Nhưng luật lại “nước đôi”, cũng không dìm quan hệ hôn nhân giữa họ, thì phải hiểu như thế nào? Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng, khi bị cấm, nghĩa là các hành vi nhằm xác lập quan hệ hôn nhân giữa những người đồng giới bị xem là hành vi vi phạm pháp luật, sẽ phải chịu nghĩa vụ pháp lý về hành vi đó.
“Cái khó” này chẳng thể là căn do khiến Dự thảo Luật HN-GĐ cho ra đời một qui định “lơ lửng”. Ảnh: HL Tuy nhiên, không cấm hôn phối giữa những người cùng giới tính, nhưng Dự luật lại cũng không thừa nhận hình thức hôn nhân này.
Người thực hiện các công việc nội trợ trong quan hệ sống chung và trông nom con chung được tính công sức như người trực tiếp tạo lập tài sản trong thời kì sống chung. Điều này đang khiến dư luận thấy khó hiểu, còn những người đồng tính thì “loay hoay”, bởi về nguyên tắc, người dân được làm những gì luật pháp không cấm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét